Giải Địa 10 - Bài 53. Địa lí ngành thương mại
Bài 53 ĐỊA LÍ NGÀNH THƯƠNG MẠI Câu hỏi và bài tập: Nêu mội số ví dụ để minh hoạ tình hình biến động của giả cả thị trường do tác động của quy luật cung - cầu? Trả lòi: Ví dụ sản xuất hàng hoá: Nếu sản xuất hàng hoá với một số lượng lớn, vượt quá nhu cầu tiêu thụ thì nhà sản xuất sẽ bị gặp khó khăn là hàng hoá ế thừa, giá cả trên thị trường càng có chiều hướng giảm, sản xuất có nguy cơ bị đình đốn. Nếu sản xuất hàng hoá với một số lượng ít, không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ thì dẫn đến việc hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt lên, người tiêu thụ sẽ gặp nhiều khó khăn trong đời sống và thị trường sẽ không ổn định. Như vậy giá cả trên thị trường thường xuyên biến động tuỳ theo mối quan hệ giữa cung và cầu. Muốn cho thị trường hoạt động ổn định, cung và cầu phải phù hợp với nhau về thời gian lẫn địa điểm. Muốn vậy, nhà sản xuất phải biết cách tiếp cận thị trường, nghiên cứu thị trường. Tại sao sự phát triển của ngành nội thương thúc đẩy sự phân công lao động theo lãnh thổ giữa các vùng? Trả lòi: Sự phân công lao động theo lãnh thổ có nghĩa là các vùng trong một nước, hoặc các nước trên thế giới tìm ra các thế mạnh để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá trao đổi với các vùng khác, nước khác. Mặt khác, mỗi vùng lại tiêu thụ các sản phẩm của các vùng khác mà mình không có thế mạnh. Như vậy, mỗi vùng tham gia vào phân công lao động theo lãnh thổ với cả hai tư cách: là vùng cung cấp sản phẩm hàng hoá và còn là vùng tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá.Thương mại là khâu nối giữa sản xuất và tiêu thụ, do vậy sự phát triển của ngành nội thương có vai trò thúc đẩy sự phân công lao động theo lãnh thổ giữa các vùng. Hoọ.t động xuất nhập khẩu có quan hệ với nhau như thế nào? Tại sao nói thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, nền kinh tế trong nước sẽ có động lực mạnh mẽ để phát triển? Trả lòi: Hoạt động xuất nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau, không thể chỉ đẩy mạnh nhập khẩu mà không dựa trên đẩy mạnh xuất khẩu vì nhập siêu sẽ làm cho gánh nặng nợ nước ngoài sẽ ngày càng cao. Việc đẩy mạnh xuất khẩu cũng tất yếu sẽ đẩy mạnh nhập khẩu, do tăng cường sự tham gia của đất nước vào quá trình phân công lao động quốc tế, đồng thời phải đẩy mạnh nhập khẩu các loại nguyên liệu, nhiên liệu, và cả máy móc thiết bị để mở rộng sản xuất. Thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, nền kinh tế trong nước sẽ có động lực mạnh mẽ để phát triển: + Trước hết hoạt động xuất khẩu sẽ tạo đầu ra cho sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế của nhiều ngành sản xuất. Việc đẩy mạnh xuất khẩu tạo vốn cho công nghiệp hoá, tạo việc làm thu nhập cho người lao động, tạo điều kiện để đẩy mạnh nhập khẩu. + Việc đẩy mạnh nhập khẩu sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Nhập khẩu thiết bị máy móc góp phần hiện đại hoá cơ sở vật chất kĩ thuật của các ngành kinh tế. Nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu cho phép mở rộng sản xuất, bù đắp các nhu cầu trong nước mà chưa đáp ứng được, tạo điều kiện nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm. Việc nhập khẩu hàng hoá còn có thể tạo ra môi trường cạnh tranh cần thiết giữa hàng nội địa và hàng nhập, thúc đẩy các cơ sở sản xuất trong nước nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Tính cán cân xuất nhập khẩu và tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá của một sổ nước theo bảng sau: Giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá của một sổ nước năm 2001 (đom vị: Tỷ USD) Tên nước Xuất khẩu Nhập khẩu Hoa Kì 730,8 1180,2 Nhật Bản 403,5 349,1 Trung Quốc 266,2 243,6 LB Nga 103,1 53,9 Xin ga po 121,8 116,0 Trả lời: Cán cân XNK = trị giá xuất khẩu - trị giá nhập khẩu Tỷ lệ XNK = trị giá xuất khẩu / trị giá nhập khẩu (%) Tên nước Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân xuất nhập khẩu (ti USD) Tỉ lệ xuất nhập khẩu (%) Hoa Kì 730,8 1180,2 - 449,4 61,9 Nhật Bản 403,5 349,1 54,4 115,6 Trung Quốc 266,2 243,6 22,6 109,3 LB Nga 103,1 53,9 49,2 191,3 Xin ga po 121,8 116,0 5,8 105,0 Tại sao tình trạng nhập siêu kẻo dài sẽ bất lợi cho nền kinh tế? Trả lời: Tình trạng nhập siêu kéo dài sẽ bất lợi cho nền kinh tế vì: Báo hiệu cho nền kinh tế đang gặp khó khăn, có chiều hướng suy thoái, sức sản xuất hàng hoá trong nước và hàng xuất khẩu kém. Chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới còn yếu. Tình trạng nhập siêu kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng vay nợ của nước ngoài càng nhiều, nền kinh tế không ổn định và dễ dàng bị lệ thuộc. Căn cú’ vào bảng số liệu sau, hãy vẽ hai biểu đồ, mỗi biểu đồ gồm hai nửa hình tròn thể hiện cả quy mô và cơ cẩu giá trị xuất khẩu, nhập khẩu (hàng hoá và dịch vụ thương mại) của Bẳc Mỹ và Châu Ả. Rút ra nhận xét từ biểu đồ đã vẽ. Tỷ lệ giữa hàng hoá và dịch vụ thưong mại trong tổng trị giá xuất khẩu và nhập khẩu của một sổ vùng, năm 2001. Xuất khẩu Nhập khẩu Vùng TổngGtrị (tỉ USD) Hàng hoá (%) Dịch vụ (%) TổngGtrị (tỉ USD) Hàng hoá (%) Dịch vụ (%) Châu Á 1947 84,5 15,5 1813 80,4 19,6 Bắc Mỹ 1291 76,8 23,2 1603 85,7 14,3 MỹLatinh 413 85,9 14,1 436 83,7 16,3 Tây Âu 3106 78,2 21,8 2983 78,3 21,7 Châu Phi 179 82,7 17,3 160 76,6 23,4 ToànTG 7520 80,6 19,4 7520 80,7 19,3 CHÂU Á BẮC MỸ Nhận xét: Quy mô: tổng trị giá xuất nhập khẩu của các nước Châu Á cao hơn các nước Bắc Mỹ. Trong trị giá xuất nhập khẩu có cả hàng hoá và dịch vụ (hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình). Trong giá trị xuất khẩu. Ở Bắc Mỹ (các nước phát triển) có dịch vụ chiếm tỷ lệ cao hơn các nước Châu Á (các nước đang phát triển), hàng hoá chiếm tỷ lệ thấp hơn các nước Châu Á. Trong giá trị nhập khẩu, dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp hơn các nước Châu Á, hàng hoá chiếm tỷ lệ cao hơn các nước Châu Á.




