Soạn bài Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu)

  • Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu) trang 1
  • Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu) trang 2
  • Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu) trang 3
* ĐỌC THÊM
HOÀNG HẠC LÂU
(Lầu Hoàng Hạc)
Thôi Hiệu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du. Tình xuyên lịch lịcli Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Đề : Nhận định về bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, có người xem đây là một tác phẩm có vị trí “Đường thi đệ nhất” trong những bài thơ Đường tuyệt tác.
Anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên. 
BÀI VIẾT GỢĩ ý
Thôi Hiệu (704 - 754) quê ở Biện Châu (nay là Khai Phong, tỉnh Hà Nam) Đương thời Thôi Hiệu rất nổi tiếng, đáng tiếc là thơ ông chỉ còn lại hơn 40 bài Trong đó bài Hoàng Hạc lâu đựợc coi là một trong những bài thơ hay nhất thời Đường. Với ngòi bút xuất thần, Thôi Hiệu đã dựng nên một Hoàng Hạc lâu chất chứa niềm hoài tưởng quá khứ ngậm ngùi trước hiện tại và tình thương nhớ quê hương tha thiết như một nỗi sầu da diết giữa thế gian. Đúng như Nghiêm Vũ - nhà phê bình thời Tông, nhận định rằng đây là bài “Luật thi đệ nhất”. Cùng với sự nghiêm túc của luật thơ, Hoàng Hạc lâu có sự phá luật nhất định, điều đó thể hiện sự hẫng hụt của tâm trạng trước cảnh “hạc khứ lâu không”, sự trông trải và tâm trạng chơ vơ khi cái đẹp đã vuột khỏi tầm tay, để lại cho con người sự bàng hoàng, nuối tiếc.
Đứng trước bài thơ, ta ngậm ngùi trước hiện tại hay luyến tiếc quê hương. Phải chăng khi đứng trước cái đẹp, con người bỗng cảm thấy bàng hoàng, bất lực, cảm thấy không thỏa mãn chính mình. Hoàng hôn về, tất cả đều mịt mù trong khói sóng, tất cả đều sử nhân sầu {khiến người buồn). Chữ sầu là nhãn tự của bài thơ, nó như một nốt trầm xao xuyến, kết đọng linh hồn bài thơ để rồi xôn xang và ngân nga mãi trong lòng thi nhân và người đọc. Cái đẹp có khả năng thanh lọc tâm hồn, bài thơ là một minh chứng cho sức mạnh thanh lọc của văn chương đốì với tâm hồn con người.
Nghiêm Vũ, một nhà phê bình văn học đời Tống, nhận xét rằng : “Thơ thất ngôn luật thi của người đời Đường, bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu là hay nhất !”. Bài thơ này thuộc thể “cổ luật”. Ở thể này, sô' chữ, sô' câu, cách gieo vần và đô'i ngẫu giông như thơ luật nhưng phôi thanh lại giông như cổ phong, không hoàn toàn hợp luật. Cụ thể, ở bài Hoàng Hạc lâu, sự phôi thanh trong bôn câu đầu không hợp luật ; bởi thế đọc bôn câu này ta cảm thấy âm điệu không êm dịu hài hòa như âm điệu của luật thi, mà có vẻ trúc trắc, bất bình thường. Đặc biệt là câu thứ ba, toàn câu chỉ có một thanh bằng duy nhất {Hoàng), còn nữa là sáu thanh trắc, mà trong sáu thanh trắc này có đến bốn “nhập thanh” (tức là những âm tiết có tận cùng bằng p, t, c - ta gọi là “âm tắc vô thanh”) : hạc, nhất, bắt, phục. Sự bất bình thường này của âm điệu góp phần thể hiện sự bất bình thường của tâm trạng, như có một nỗi niềm gì day dứt, hụt hẫng, tiếc nuối, ...
Các nhà thơ Đường thường thể hiện điều mình muôn nói, đặc biệt là thể hiện tâm trạng, thông qua các mốì quan hệ được tạo dựng trong bài thơ. Ớ bài Hoàng Hạc lâu này cũng vậy. Qua tám câu thơ ta có thể thấy được các mô'i quan hệ giữa xưa và nay, giữa xa và gần, giữa thực và hư, mà tất cả các quan hệ ấy đều gợi nỗi buồn trong tâm hồn người lữ khách {sử nhân sầu). Nghĩa là, cảnh nào cũng gợi sầu ; tất cả : không gian, thời gian, cảnh vật, xưa và nay, xa và gần, thực và hư, ... đều “khiến người buồn” {sử nhân sầu) chứ không phải chỉ yên ba giang thượng, tất cả đều là nguyên nhân dẫn đến nỗi buồn trong lòng người du tử, mà tất cả đều bắt đầu từ “Người xưa đã cưỡi hạc vàng đi mất”. Tất cả đều hội tụ thành bức tranh tâm trạng, hội tụ thành nỗi sầu vời vợi giữa nhân gian.
Nhan đề bài thơ là Hoàng Hạc lâu, nhưng ngoài sự xác định vị trí lầu Hoàng Hạc ở “nơi đây” {thử địa), toàn bài không nói gì về lầu cả. Vậy thì, dụng ý của tác giả ở đâu ? Có lẽ là những gì mà con người (Thôi Hiệu) thấy được, cảm nhận được khi đứng trên lầu Hoàng Hạc... Người tiên đã cưỡi hạc vàng ra đi không bao giờ trở lại, dù mây trắng chờ mong, dù hàng cây vẫn lặng lẽ soi bóng xuống Trường Giang, dù cỏ non vẫn xanh tươi mơn mởn, ...nghĩa là tâ't cả vẫn nguyên đó, chỉ cái đẹp thần tiên là mãi mãi xa rồi, ...
Người một lần đến đây mà ngợp một nỗi sầu chất ngất bởi chiêm nghiệm sự mất mát không gì bù đắp nổi : - Lầu ở mãi nơi này, lầu có buồn không ?
Không nói gì về lầu cả vì người đang đứng với lầu mà nhìn, mà cảm, người với lầu đang thông nhất làm một.
Không nói gì về lầu cả vì người với lầu đang cùng chung tiếng nói.
Dường như khi đứng trước cái đẹp, hay nhớ về cái đẹp đã ra đi, con người bỗng cảm thấy bâng khuâng như thiếu một cái gì, như cảm thấy không thỏa mãn với mình. Có lẽ đây là nỗi niềm chung của con người khi đứng trước cái đẹp (của thiên nhiên, của nghệ thuật, của cuộc đời, của tình người ...) khiến cho người đọc khi đến với Hoàng Hạc lâu đều cảm thấy bâng khuâng một “nỗi sầu Thôi Hiệu”.
Hoàng Hạc lâu được xưng tụng “Đường thi đệ nhất” phải chăng vì cái hiệu quả thẩm mĩ mà Hoàng Hạc lâu đem đến cho người đọc - cái nỗi sầu chan chứa, kết đọng trong tâm ? Bên cạnh đó, bài thơ còn có những điểm thi tại ngôn ngoại, những nỗi niềm không thể nói thành lời, đó có lẽ cũng là nguyên nhân khiến người ta cảm thấy Hoàng Hạc lâu thật hay, thật đẹp và cũng thật mênh mang khó nắm bắt, và hậu thế mãi đi tìm điểm lặng của bài thơ như đi tìm vẻ đẹp của cuộc sông bất tận.
Đặng Cao Sửu