Soạn bài Sự phát triển của từ vựng

  • Sự phát triển của từ vựng trang 1
  • Sự phát triển của từ vựng trang 2
  • Sự phát triển của từ vựng trang 3
  • Sự phát triển của từ vựng trang 4
  • Sự phát triển của từ vựng trang 5
  • Sự phát triển của từ vựng trang 6
Sự PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VựNG
KIẾN THỨC CÂN NHỚ
1. Từ vựng của một ngôn ngữ không ngừng phát triển để đáp ứng các yêu cầu do xã hội đặt ra. Trong sự phát triển của từ vựng tiếng Việt, hiện tượng một từ ngữ có thể phát triển nghĩa trên cơ sở nghĩa gốc đóng vai trò quan trọng.
Có hai phương thức chủ yếu phát triển nghĩa của từ ngữ: phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ.
Ví dụ 1:
Trong bài thơ “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu có câu “Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế”. Từ “kinh tế” ở đây là nói tắt của “kinh bang tế thế'’ (trị nước cứu đời), hoặc “kinh thế tế dân” (trị đời cứu dân). Câu thơ của Phan Bội Châu ý nói tác giả ôm ấp hoài bão lớn lao giúp nước giúp dân.
Ngày nay, từ “kinh tế” không còn dùng theo nghĩa như trên nữa mà theo nghĩa: toàn bộ những hoạt động của con người trong lao động sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng của cải, vật chất làm ra.
Ví dụ 2:
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
—> xuân: mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời tiết ấm dần lên, thường được coi là mùa mở đầu của một năm (nghĩa gốc).
Ngày xuân eỉn hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
—> xuân: thuộc về tuổi trẻ (nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ).
Ví dụ 3:
Được lời như cởi tấm lòng,
Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.
—> tay: bộ phận phía trên của cơ thể, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm (nghĩa gốc).
Củng nhà hành viện xưa nay,
Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.
—> tay: người chuyên hoạt động hay giỏi về một môn, một nghề nào đó (nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ).
Ví dụ 4:
+	Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
—> chân: bộ phận dưới cùng của cơ thể người hoặc động vật, dùng để đứng và di chuyển (nghĩa gốc).
+ Năm em học sinh lớp 9A có chăn trong đội tuyển của trường đi dự “Hội khỏe Phù Đổng”.
--> chân: chỉ cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên một tổ chức (nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ)
+	Dù ai nói ngả nói nghiêng
Thì ta vẫn vững như kiềng ba chân.
--> chân-, bộ phận dưới cùng của một sô" đồ vật, có tác dụng đỡ cho các bộ phận khác (nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ).
+	Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
—> chân-, phần dưới cùng của một số vật, tiếp giáp với mặt nền (nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ)
Tạo thêm từ ngữ mới làm cho vốn từ tăng lên là một cách thức để phát triển từ vựng tiếng Việt.
Ví dụ 1: gần đây có những từ ngữ mới được cấu tạo trên cơ sở các từ có sẵn, chẳng hạn như:
điện thoại di động {điện thoại + di động)-, điện thoại vô tuyến nhỏ mang theo người, được sử dụng trong vùng phủ sóng của cơ sở cho thuê bao.
điện thoại nóng {điện thoại + nóng)-, điện thoại dành riêng để tiếp nhận và giải quyết những vấn đề khẩn cấp vào bất kì lúc nào. kinh tế tri thức {kinh tế + tri thức)-, nền kinh tế dựa chủ yêu vào việc sản xuất, lưu thông, phân phôi các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
đặc khu kình tế {đặc khu + kình tế): khu vực dành riêng để thu hút vôn và công nghệ nước ngoài, với những chính sách có ưu đãi. sở hữu trí tuệ {sở hữu + trí tuệ): quyền sở hữu đôi với sản phẩm do hoạt động trí tuệ mang lại, được pháp luật bảo hộ như quyền tác giả, quyền phát minh, sáng chế...
Ví dụ 2: ngày trước có những từ sơn tặc (giặc cướp hoạt động ở vùng núi), hải tặc (giặc cướp hoạt động trên biển); ngày nay có những từ mới xuâ't hiện như: lâm tặc (kẻ cướp tài nguyên rừng), tin tặc (kẻ dùng kĩ thuật thâm nhập trái phép vào dữ liệu trên máy tính của người khác để khai thác hoặc phá hoại).
Mượn từ ngữ của tiếng nước ngoài, nhất là của tiếng Hán, cũng là một cách thức để phát triển từ vựng tiếng Việt.
Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa - ngôn ngữ Hán cả nghìn năm Bắc thuộc, tiếng Việt đã mượn nhiều từ ngữ Hán. Những từ ngữ Hán ấy dần dần được Việt hóa trở thành từ Hán - Việt, số lượng từ Hán - Việt chiếm hơn 50% từ vựng tiếng Việt, làm phong phú thêm cho ngôn ngữ Việt. Trong thực tế, có nhiều trường hợp diễn đạt không thể lấy từ thuần Việt thay thế cho từ Hán - Việt.
Ví dụ 1:
Thanh minh trong tiết tháng ha,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa hộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Trong đoạn thơ, có những từ Hán - Việt là:
Thanh minh', tên gọi một trong hai mươi bôn ngày tiết trong nãm theo lịch cổ truyền của Trung Quốc, ứng với ngày 4, 5 hoặc 6 tháng tư dương lịch, thường vào khoảng tháng hai, tháng ba âm lịch, có tục đi thăm viếng, sửa sang mồ mả.
Tiết', ngày cách nhau nửa tháng trong năm, ứng với một trong hai mươi bốn vị trí của mặt trời trên đường hoàng đạo, được đưa vào lịch cổ truyền của Trung Quốc nhằm xác định khí hậu, thời vụ cho phù hợp với điều kiện tự nhiên.
Lễ', những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó.
Tảo mộ', thăm viếng và sửa sang mồ mả hằng năm theo phong tục cể truyền.
Hội', cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt.
Đạp thanh', giẫm trên cỏ xanh.
Yến anh', chim yến và chim vàng anh (thường dùng để chỉ cảnh trai gái dập dìu, tấp nập; hoặc để chỉ quan hệ trai gái tự do, phóng túng).
Bộ hành: đi bộ, người đi bằng đường bộ.
Xuân: mùa chuyển tiếp từ đòng sang hạ, thời tiết ấm dần lên, thường được coi là mùa mở đầu của một năm.
Tài tử: người đàn ông có tài.
Giai nhân: người con gái đẹp.
Ví dụ 2:
Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu hay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh hạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống dất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.
(Nguyễn Dữ, Chuyện người con gái Nam Xương)
Những từ Hán - Việt trong đoạn văn trên là:
Bạc mệnh', số phận mỏng manh, hẩm hiu, không có gì tốt đẹp (thường nói về phụ nữ).
Duyên', phần cho là trời định dành cho mỗi người về khả năng có quan hệ tình cảm (thường là quan hệ nam nữ, vợ chồng) gắn gó, 'hòa hợp trong cuộc đời.
Phận', thân phận; địa vị và gắn với nó là bổn phận của người bề dưới đôi với người bề trên.
Thần', lực lượng siêu tự nhiên được tôn thờ, coi là linh thiêng, có thể gây họa hoặc làm phúc cho người đời, theo quan niệm duy tâm.
Linh (thiêng): có phép lạ làm được những điều khiến người ta phải kinh sợ.
Chứng giám: (lực lượng linh thiêng) soi xét và chứng cho.
Thiếp: cách tự xưng hô khiêm nhường của người phụ nữ ngày trước khi nói với chồng hoặc với người đàn ông nói chung.
Đoan trang: (người con gái) đứng đắn và nghiêm trang.
Tiết: lòng ngay thẳng, trong sạch, giữ trước sau như một.
Trinh bạch: trong trắng, không một chút nhơ bẩn, xấu xa.
Ngọc: đá quý, thường dùng làm vật trang sức, trang trí.
Phỉ: nhổ nước bọt nhằm vào cái gì đó.
Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa - ngôn ngữ Pháp, tiếng Việt mượn nhiều từ ngữ của tiếng Pháp. Và sau này, trong quá trình phát triển, để biểu thị những khái niệm mới xuất hiện trong đời sông và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao, ngày càng phong phú của giao tiếp xã hội, của các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục..., tiếng Việt mượn thêm nhiều từ ngữ của ngôn ngữ các nước phương Tây.
Ví dụ:
Tít: đầu đề bài báo, thường in chữ lớn.
AIDS: bệnh mất khả năng miễn dịch, gây tử vong.
Ma-két-ting: nghiên cứu một cách có hệ thống những điều kiện để tiêu thụ hàng hóa.
THựC HÀNH - LUYỆN TẬP
» ♦
1. Giải thích nghĩa của các từ sau đây:
+ chiến trường, thao trường, công trường, nông trường, quảng trường,
thương trường, lăm trường, ngư trường.
+ ôxi hóa, lão hóa, trẻ hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, hiện đại hóa, công
nghiệp hóa, thương mại hóa, xã hội hóa, thành thị hóa, tha hóa.
Chọn những từ ngữ sau đây điền vào chỗ trống các câu bên dưới: cơm bụi, công viên nước, công nghệ cao, đa dạng sinh học, bàn tay vàng, đường cao tốc, cầu truyền hình, hiệp định khung, đường vành đai, thương hiệu-.
Hình thức truyền hình tại chỗ cuộc giao lưu, đối thoại trực tiếp với nhau qua hệ thống ca-mê-ra giữa các địa điểm cách xa nhau được gọi là /.../.
/.../ có nghĩa là bàn tay tài giỏi hiếm có trong việc thực hiện một thao tác lao dộng hoặc kĩ thuật nhất định.
/.../ là công nghệ dựa trên cơ sở khoa học kĩ thuật hiện đại, có độ chính xác và hiệu quả kinh tế cao.
/.../ là một thuật ngữ sinh học biểu thị sự phong phú, đa dạng về nguồn gien, về giống loài sinh vật trong tự nhiên.
/.../ là hiệp định có tính chất nguyên tắc chung về một vấn đề lớn, được kí kết thường là giữa hai chính phủ, có thể dựa vào đó triển khai và kí kết những vấn đề cụ thể.
/.../ là đường xây dựng theo tiêu chuẩn đặc biệt dành riêng cho các loại xe cơ giới chạy với tốc độ cao (khoảng từ 100 km/h trở lên).
/.../ là cơm giá rẻ, thường bán trong hàng quán nhỏ, tạm bợ.
/.../ là công viên trong đó chủ yếu là những trò chơi dưới nước như trượt nước, bơi thuyền, tắm biển nhân tạo.
/.../ là đường bao quanh, giúp cho những phương tiện vận tải có thể đi vòng qua để đến một địa phương khác mà không đi vào bên trong thành phố, nhằm giải tỏa giao thông thành phố.
k. /.../ là nhãn hiệu hàng hóa được dùng trên thị trường, nhãn hiệu thương mại.
Hãy chỉ ra trong những từ sau đây, từ nào thuần Việt, từ nào mượn của tiếng Hán, từ nào mượn của ngôn ngữ các nước phương Tây:
băng giá, băng ca, băng đô, băng băng.
ba dơ, ba lê, ba ba, ba đào, phong ba.
đại cát, cát xét, cát tút, đất cát.