Soạn bài Chiếu cầu hiền
CHIẾU CẦU HIỂN
Ngô Thì Nhậm
KIẾN THỨC Cơ BẢN
A. Giới thiệu
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1802) người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Năm 1775, ông đỗ Tiến sĩ, từng được chúa Trịnh giao cho giữ chức Đốc đồng trấn Kinh Bắc. Năm 1788, khi nhà Lê - Trịnh sụp đổ, Ngô Thì Nhậm đã đi theo phong trào Tây Sơn, được vua Quang Trung phong làm Lại Bộ Tả thị lang, sau thăng chức Binh Bộ Thượng thư. Ông là người có nhiều đóng góp cho triều đại Tây Sơn. Nhiều văn kiện, giấy tờ quan trọng của Tây Sơn do ông soạn thảo.
“Chiếu cầu hiền” của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết thay, vào khoảng năm 1788 - 1789. Mục đích của bài Chiếu là thuyết phục sĩ phu Bắc Hà - các trí thức của triều đại cũ (triều Lê - Trịnh) - ra cộng tác với Tây Sơn.
Hoàn cảnh nước ta khi bài Chiếu ra đời: Nước ta vừa trải qua một thời kì loạn lạc. Cụ thể là thế kỉ XVIII, chúa Trịnh ngày càng lấn át quyền vua Lê. Từ sau sự kiện Tây Sơn ra Thăng Long “phù Lê diệt Trinh” năm 1786, xung đột vua Lê, chúa Trịnh đã gay gắt hơn. Rồi sự can thiệp của quân xâm lược nhà Thanh và cuộc hành quân thần tốc của Quang Trung Nguyễn Huệ ra Thăng Long đánh đuổi giặc Thanh xâm lược, mở ra trang sử mới của đất nước ta. Nói chung trong bối cảnh xã hội loạn lạc, kẻ sĩ thường lúng túng, chán nản, bi quan. Nhiều người không muốn hoạt động xã hội, muôn trốn tránh, không làm quan sợ liên lụy hoặc vì muốn bảo tồn nhân each nhà Nho “tôi trung không thờ hai chủ”. Mặt khác, kẻ sĩ Bắc Hà đã hơn ba trăm năm phụng sự nhà Lê. Khi nhà Lê sụp đổ, triều đại Tây Sơn lên thay, một số nhà Nho đã sáng suốt ủng hộ Tây Sơn. Đó là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Ninh Tôn... Song nhiều nhà Nho do quan điểm đạo đức bảo thủ không nhận thấy chính nghĩa và sứ mệnh lịch sử của Tây Sơn nên đã bất hợp tác, thậm chí chông lại Tây Sơn. Điển hình là Tiến sĩ Trần Danh Án, người đã được Ngô Thì Nhậm và Phan Huy ích viết thư khuyên mời cộng tác với Tây Sơn đến ba lần nhưng đều cự tuyệt. Trước tình hình đó, một công việc có tầm quan trọng chiến lược đốì với vua Quang Trung là thuyết phục trí thức Bắc Hà hiểu đúng những nhiệm vụ xây dựng đất nước to lớn mà triều đại Tây Sơn đang dự kiến thực hiện để họ ra cộng tác, phục vụ cho triều đại mới. Ngô Thì Nhậm đã thực hiện xuất sắc tư tưởng chiến lược đó của Quang Trung trong bài Chiếu cầu hiền.
B. Đọc - Hiểu văn bản
Bài chiếu chia ra làm ba đoạn.
Đoạn một (từ đầu đến “ý trời sinh ra người hiền tài”), tác giả đưa ra luận điểm về mối quan hệ giữa người hiền tài và thiên tử.
Trước hết, Ngô Thì Nhậm chỉ ra quy luật xuất xử của người hiền tài và mối quan hệ giữa họ với nhà vua là:
+ Người hiền tài phải do thiên tử sử dụng.
+ Không làm như vậy là trái đạo trời, trái quy luật cuộc sống.
Để làm rõ điều đó, tặc giả đã mở đầu bài Chiếu bằng việc mượn lời Khổng Tử để ví người hiền như sao sáng trên trời, và quy luật của tinh tú là các sao đều phải chầu về sao Bắc Cực (Bắc thần tượng trưng cho thiên tử).
Việc mượn lời Khổng Tử trong sách Luận ngữ có sức thuyết phục đối với sĩ phu Bắc Hà bởi theo quan niệm của Nho gia, Khổng Tử là ông thánh, lời Khổng Tử là lời dạy của thánh hiền, là chân lí bất di bất dịch.
Đoạn hai (từ “Trước đây,...” đến "... buổi đầu cho trầm ifì”Ỵ.
a. Trên cơ sở chân lí nêu ở đầu bài, người viết ngầm chỉ trích cách ứng xử của bậc hiền tài khi Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh.
Khi Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh, sĩ phu Bắc Hà có các cách ứng xử như sau:
+ Bỏ đi ở ẩn, mai danh ẩn tích bỏ phí tài năng: “Lui về nơi rừng suối . làm dân thường, bất hợp tác, làm bậc cao ẩn giấu kín danh tiếng không xuất
hiện suốt đời”.
+ Những người ra làm quan với Tây Sơn thì hoặc sợ hãi im lặng, hoặc làm việc cầm chừng: “Các anh tài tại triều đình thì giữ lời ngậm tăm như ngựa đứng trong hàng nghi lề”.
Tuy nhiên, tác giả không nói thẳng những điều đó bằng ngôn ngữ trực tiếp mà dùng hình ảnh hoặc lấy trong kinh điển Nho gia, hoặc mang ý nghĩa tượng trưng. Cách diễn đạt như vậy vừa tế nhị, vừa có tính chất châm biếm nhẹ nhàng, vừa tỏ ra người viết có kiến thức sâu rộng, có tài hoa, am hiểu Nho học, khiến người nghe không những không tự ái mà còn nể trọng và tự cười về thái độ ứng xử chưa đúng của mình.
Sau khi chỉ ra thực tế về cách ứng xử của sĩ phu Bắc Hà, người viết đặt câu hỏi theo thế lưỡng đao, khiến người nghe không thể không thay đổi cách sông: “Hay trầm là người ít đức, không xứng để những người ấy phò tá chăng? Hay là đương thời loạn lạc, họ chưa thể phụng sự vương hầu?”. Nói Nguyễn Huệ là người “ít đức”, xem đương thời là “thời loạn lạc”, cả hai điều ấy đều không đúng với hiện thực bấy giờ. Vậy thì các bậc hiền tài chỉ còn một cách là phải ra phục vụ và phục vụ hết lòng cho triều đại mới.
b. Bên cạnh đó, đoạn hai của bài chiếu còn bộc lộ thải độ cầu hiền của Nguyễn Huệ - thành tâm, khiêm nhường nhưng rất kiên quyết.
Trước hết, tác giả thay lời vua Quang Trung để bày tỏ thái độ cầu hiền hết sức thành tâm, khiêm nhường: “Trẫm hiện đương ngồi bèn mép chiếu, chăm chú lắng nghe, sớm hôm mong mỏi”.
Tiếp theo, tác giả chỉ ra tính chất của thời đại (triều đại mới tạo lập, mọi sự đang bắt đầu) và cũng thẳng thắn tự thừa nhận những điều bất cập của triều đại mình: “Kỉ cương triều đình còn nhiều thiếu sót, công việc biên ải chính lúc lo toan. Dân khốn khổ còn chưa hồi sức, việc giáo hóa đạo đức chưa thấm nhuần”.
Từ đó, tác giả chỉ ra sau buổi đại định, công việc thì nhiều và nặng nề, đòi hỏi phải có sự trợ giúp của các bậc hiền tài. Để nói rõ điều này, tác giả dùng hình ảnh cụ thể “làm nên ngôi nhà lớn không phải chỉ một cành cây” và chỉ ra sự thực “xây dựng nền thái bình không chỉ mưu lược của một kẻ sĩ”.
Cuối đoạn, tác giả mượn lời Khổng Tử trong sách Luận ngữ “một ấp mười nhà tất có người trung tín” để khẳng định rằng, nhân tài trong nước không những có mà có rất nhiều. Vậy tại sao lại “không có người kiệt xuất hơn đời để giúp rập chính sự buổi đầu cho trẫm ư?”. Điều đó thể hiện quyết tâm cầu hiền của Nguyễn Huệ.
Đoạn ba (phần còn lại): Đường lối cầu hiền của vua Quang Trung.
Đường lốì cầu hiền của vua Quang Trung vừa rộng mở, vừa đúng đắn. Những điểm chính trong đường lối ấy là:
Tất cả mọi tầng lớp nhân dân từ quan liêu lớn nhò đến dân chúng trăm họ đều được phép dâng thư tỏ bày công việc.
Cách tiến cử cũng rộng mở và dễ làm, gồm ba cách:
+ Tự mình dâng thư tỏ bày công việc;
+ Các quan tiến cử;
+ Dâng thư tự cử.
Cuối cùng, tác giả kêu gọi những người có tài đức hãy cùng triều đình gánh vác việc nước và hứa hẹn: “Nliững ai có tài đức, đều nên đưa ra thi thố, để được rỡ ràng chốn vương đình, một lòng cung kính để cùng hưởng phúc tôn vinh”.
Tóm lại, các biện pháp cầu hiền của vua Quang Trung vừa cụ thể, vừa dễ thực hiện.
* Nghệ thuật viết văn luận thuyết
Bài văn luận thuyết này có tính mẫu mực, thể hiện trong sự chặt chẽ và tính lôgic của các luận điểm, trong sự thuyết phục khéo léo, trong cách bày tỏ thái độ khiêm tôn của người viết (cũng tức là của người có tư tưởng chỉ đạo là Quang Trung). Những lí lẽ được trình bày một cách uyển chuyển, vừa đề cao người hiền tài, vừa châm biếm nhẹ nhàng những ai cố’ chấp, vừa ràng buộc bằng những lời chân tình, thẳng thắn, vừa mở ra con đường lớn cho sĩ phu Bắc Hà.
c. Tổng kết
“Chiếu cầu hiền” là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên trí thức Bắc Hà đem tài năng tham gia xây dựng đất nước.
ĐỀ VĂN LUYỆN TẬP
Đề: Hãy trình bày cách lập luận và nghệ thuật thuyết phục sĩ phu Bắc Hà của tác giả bài “Chiếu cầu hiền”.
GỢI ý
Bài vàn luận thuyết này có tính mẫu mực, thể hiện trong sự chặt chẽ và tính lôgic của các luận điểm, trong sự thuyết phục khéo léo, trong cách bày tỏ thái độ khiêm tôn của người viết (cũng tức là của người có tư tưởng chỉ đạo là Quang Trung). Những lí lẽ được trình bày một cách uyển chuyển, vừa đề cao người hiền tài, vừa châm biếm nhẹ nhàng những ai cố chấp, vừa ràng buộc bằng những lời chân tình, thẳng thắn, vừa mở ra con đường lớn cho sĩ phu Bắc Hà.
Hệ thông luận điểm của bài văn:
Nêu chân lí: Kẻ hiền tài phải do thiên tử sử dụng.
Trên thực tế, các bậc hiền tài Bắc Hà chưa chịu ra giúp Tây Sơn.
Thiên tử thiết tha mong kẻ hiền tài ra giúp nước.
Tư LIỆU THAM KHẢO
Ngô Thì Nhậm (còn gọi là Ngô Thời Nhiệm; 1746-1803) là danh sĩ, nhà văn đời Hậu Lê - Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ngô Thì Nhậm xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây; tự là Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên.
Ngô Thì Nhậm thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về lịch sử. Ông thi đỗ Giải nguyên năm 1768, rồi Tiến sĩ tam giáp năm 1775. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở Bộ Hộ dưới triều Lê - Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý mến. Năm 1778, làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Khi đó cha ông làm Đốc đồng Lạng Sơn. Cha con đồng triều, nổi tiếng văn chương trong thiên hạ.
Vụ án năm Canh Tí (1780) nổ ra, ông không can dự gì nhưng cũng phải bỏ trôn về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn.
Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền" tìm kiếm quan lại của triều cũ. Ngô Thì Nhậm mang-tài năng mình đến với Tây Sơn. Cuối năm Mậu Thân (1788), '<do vua Lê Chiêu Thông cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ Tam Điệp gép phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn. Vì vậy năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh Bộ Thượng thư.
Không chỉ là một danh sĩ, thành viên của Ngô gia ván phái mà Ngô Thì Nhậm còn là người văn võ song toàn, giỏi về chính trị, ngoại giao, quân sự. Tài ngoại giao của ông đã góp phần quyết định, ngăn chặn ý đồ gây chiến phục thù của nhà Thanh sau trận Đông Đa 1789.
Quang Trung mất, ông không còn được tin dùng, quay về nghiên cứu Phật học.
Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm và một sô' đại thần triều Tây Sơn bị đánh bằng roi cho đến chết tại Văn Miếu năm 1803.
Tương truyền cả Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường cùng học với nhau và đỗ đạt lớn, xuất thân từ nhà Thái Học. Ngay từ nhỏ, Ngô Thì Nhậm đã tỏ ra thông minh hơn Đặng Trần Thường.
Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm thét bảo Thường:
“Ở đây cần dùng người vừa có tài, vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác”.
Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo Nguyễn Phúc Ánh.
Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một sô' quan vãn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong sô' đó có Phan Huy ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó là Đặng Trần Thường.
vốn có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm: Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai;
Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp:
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.
Có thuyết nói rằng, nguyên câu đôi lại của Ngô Thì Nhậm là:
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế nào củng thế.
hoặc là:
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế nào vẫn thế.
Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu "thế đành theo thế" (hay “thế thời theo thể”). Ngô Thì Nhậm không nói lại. Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốíc độc đánh ông.
Sau trận đòn về nhà, Phan Huy ích không bị đánh bằng thuốc độc nên còn sống. Còn Ngô Thì Nhậm bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ, biết mình không qua khỏi, trước khi qua đời, ông có làm bài thơ gửi tặng Đặng Trần Thường như sau:
Ai tai Đặng Trần Thường Chân như yến xử đường Vị Ương cung cố sự Diệc nhĩ thị thu trường
Nghĩa là: Thưcmg thay Đặng Trần Thường. Nay quyền thể lắm đấy, nhưng khác nào như chim yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn đến nơi. Giống như Hàn Tín giúp Hán Cao Tổ, rồi bị Cao Tổ giết ở cung Vị Ương. Kết cục của ngươi rồi củng thế đó.
Tạm dịch:
Thương thay Đặng Trần Thường Tổ yến nhà xử đường Vị Ương cung chuyện cũ Tránh sao kiếp tai ương?
Quả nhiên sau này bài thơ ứng nghiệm, Thường bị Gia Long xử tử.
Ngô Thì Nhậm là một trí thức đa tài: chính trị, quân sự, ngoại giao... Trịnh Sâm khen ông:" Tài học không ở dưới người". Quang Trung ca ngợi ông: "Thuộc dòng văn học Bắc Hà, thông thạo việc đời". Riêng về thơ văn trước tác, ông viết đủ loại: Nghiên cứu sử địa, bình luận vãn hóa xã hội, thơ phú,... Thơ Ngô Thì Nhậm ẩn chứa những suy nghĩ và cách ứng xử của kẻ sĩ lấy lợi ích dân, nước làm trọng. Trong lúc làm quan, ông nổi tiếng liêm khiết. Tâm hồn ông học sự trong sạch của thiên nhiên. Nghe tiếng chim hót trong trẻo trên cành cao sau mưa, ông thấy thẹn cho cõi lòng còn gợn hư danh. Lên núi cao nhìn vào xa rộng ông giác ngộ: "Lên chơi bừng giấc Nam kha mộng".
Giấc Nam kha là ý thơ được dùng nhiều trong thơ cổ điển, nhưng Ngô Thì Nhậm không dùng theo mốt văn chương mà theo kinh nghiệm đời ông. Kẻ sĩ trong thời nhiễu nhương, nhiều nông nỗi buồn phiền ghê gớm, phải có cách nghĩ cao hơn để vượt trở ngại của thực tế. Cách nghĩ của Ngô Thì Nhậm là tìm sự thanh thản trong quy luật của thiên nhiên, của lịch sử.
(Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) CHÍNH SÁCH CHIÊU HIEN đãi sĩ của nguyễn huệ
Mùa Xuân năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi, lấy niên hiệu là Quang Trung. Điều đầu tiên vị vua này quan tâm chính là xây dựng một nguồn nhân lực cho mình và cho sự tồn tại của đế chế mới hình thành. Trong “Chiếu lập học”, ông đã viết: “Xây dựng đất nước phải lấy việc dạy học làm dầu, tìm lẽ trị bình lấy tuyền nhân tài làm gốc...”. Có thể thấy rằng, nét nổi bật trong toàn bộ đường lối kinh tế - xã hội của vua Quang Trung chính là xây dựng • một “chiến lược con người”. Nói cách khác, Nguyễn Huệ đã chuẩn bị ngay lập tức cho đế chế của mình một nguồn nhân lực có sẵn và đào tạo nguồn nhân lực cho lâu dài nhằm an dân, trị quốc, bình thiên hạ. Chiến lược và sách lược “dụng nhân” được Nguyễn Huệ thực hiện thông qua việc cải tổ hệ thống giáo dục, đồng thời xây dựng một chính sách rõ ràng, rành mạch đối với tầng lớp trí thức trong xã hội thời bấy giờ. ông rất quan tâm đến việc khai thác các
tiềm năng trí tuệ để phục vụ đế chế.
Khát vọng xây dựng một nhà nước hùng mạnh về mọi mặt đã thôi thúc vị lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa nông dân chú ý đến vai trò quan trọng của giới Nho sĩ, trí thức. Để có nguồn nhân lực cho phát triển nhân tài, ông đã cho triển khai nhanh hệ thống giáo dục đến tận làng, xã. Nếu như hiện nay, chúng ta mới chỉ có Phòng Giáo dục cấp huyện thì thời Tây Sơn, ngay ở cấp xã đã có một loại hình cớ quan quản lí Nhà nước về giáo dục gọi là “Nhà xã học”. Đây chính là mô hình mới của Nguyễn Huệ trong chiến lược nâng cao dần trí và chuẩn bị nguồn lực lâu dài để đào tạo, phát triển nhân tài cho đất nước. Bên cạnh đó, ông cũng đặc biệt quan tâm tới việc thu phục nhân tài. Trước sự tiến công mạnh mẽ của nghĩa quân Tây Sơn, nhiều trí thức ở Đàng Trong lo sợ bỏ chạy theo chúa Nguyễn Ánh. ớ Đàng Ngoài, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ nhất cũng đã vấp phải sự chống đôi kịch liệt của tầng lớp Nho sĩ, trí thức chính thống của Bắc Hà. Bởi lẽ lúc đó quyền lợi của tầng lớp Nho sĩ, trí thức này đang gắn liền với triều đình nhà Lê - Trịnh. Rất nhiều bậc Nho sĩ tên tuổi thời ấy đã thà chết chứ không chịu đầu hàng, theo giúp Nguyễn Huệ. Trước hoàn cảnh đó, một thiên tài khác trong con người Nguyễn Huệ lại được dịp bộc lộ, giải nguy tình huống này. Đó là một nét độc đáo bên cạnh tài năng quân sự vô song của vị vua áo vải đất Tây Sơn - Bình Định.
Trước tiên, Nguyễn Huệ xây dựng một chính sách không phân biệt đối xử với tất cả trí thức, quan lại của triều đình cũ và mới. Ông khẳng định chủ trương đúng đắn của mình bằng một văn bản có tên là: “Chiểu dụ các quan văn võ triều cữ”. Trong đó, có đoạn viết: “Trẫm một lòng yểu quý nhân tài không lúc nào quèn... Phàm những kẻ đang bị giam giữ đều tha ra hết, những người chạy trốn không truy nã nữa đễ làm rõ đức khoan dung”. Có lẽ sẽ không có một cách làm chính trị nào hay hơn đôĩ với giới trí thức Nho sĩ thời bấy giờ bằng chính sách khoan hồng đầy sức thuyết phục như Nguyễn Huệ đã làm. Trong thực tế, vị vua bình dân này đã làm phân hóa dần giới trí thức, Nho sĩ triều đình cũ. Tuy vậy, ông cũng hiểu thêm dặc điểm chung của họ là không chỉ cần sự ưu ái, khoan dung mà điều quan trọng đối với họ chính là được triều đình trọng dụng. Nguyễn Huệ đã giải được bài toán khó này, đồng thời ông còn có tâm huyết sẽ đặt đúng vị trí, sở trường của từng người trong chế độ mới hình thành của mình. “Trẫm đang để ý lắng nghe, thức ngủ mong mỏi tại sao những người tài cao, học rộng chưa thấy đến, hay là trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng...? Trẫm nơm nớp lo nghĩ, dù một ngày, hai ngày củng có đến hàng vạn sự việc nảy sinh. Ngẫm cho kỹ: Cái nhà to lớn, sức một cây cột không thể chống đỡ, sự nghiệp thái bình, sức một người không thể đảm đang...” {Chiếu cầu hiền).
Có thể nói rằng, Nguyễn Huệ không chỉ là một nhà quân sự tài hoa, lỗi lạc, ông còn là một người giỏi hoạch định chiến lược thu phục nhân tài, nhằm phục hưng đất nước, một đất nước bị chia cắt, bị kiệt quệ sau hơn 200 năm phân tranh Trịnh - Nguyễn. Nguyễn Huệ đã rất thành công trong việc chinh phục trái tim kẻ sĩ. ông đã tập hợp được phần đông các tướng tài văn, võ thời bấy giờ đi theo mình, đó là Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Phan Huy ích, Vũ Huy Tần, Bùi Dương Lịch... Tuy chỉ tồn tại không đến 15 năm, nhưng những gì mà thiên tài Nguyễn Huệ để lại cho hậu thế vẫn là một nét son sáng chói trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
(Theo website wiviv.tchdkh.org.vn)








